TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ

 TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ

Hình minh họa

Tiếp theo và hết 

Già thường sinh ra lẩm cẩm, nói nhiều mà toàn là chuyện đời xưa, đời trước. Vô lai rai ba sợi, hứng chí, còn dám mở máy “radio” kể, khoe các chiến tích vẻ vang trên tình trường với chị hàng xóm mà vốn xưa nay nín thinh, dấu nhẹm bà xả. Nè, ngậm miệng lại dùm nghe quí vị liền ông! Chết cả đám rồi lây lan tới bạn bè chớ không phải chơi đâu! Trong Cải Tạo gọi là: “Phải khai báo thành khẩn thì C. M. (đọc là… Con Mẻ) sẻ tha thứ vì C. M. biết hết rồi, không dấu diếm được đâu hihihi.” Tây nói:  

“Muốn nói láo với Bà Xã, phải có trí nhớ dai!” 

Ê, mấy quí ông chồng phải trả cho tui $5, tiền nhắc nhở quí báu đó à nha! 

Trời sanh người đàn bà không bao giờ quên bất cứ chuyện gì của ông xả mình. Như hai ông bà kia ra ngồi ghế đá công viên phơi nắng sáng, bà nói với ông:  

“Em nhớ ngày xưa, hồi mới quen nhau, lần đầu tiên hẹn hò đi chơi, anh ngồi sát bên em trong công viên Tao Đàn như trong thơ Xuân Diệu vậy.” 

Ông lật đật ngồi sát vào bà. Bà tiếp tục:  

“Mau quá, mới đây đã mấy chục năm rồi mà Em cũng còn cảm nhận cánh tay anh choàng qua vai em như hôm qua.” 

Ông bèn choàng vai bà. Mắt bà sáng lên, bà nói trong mơ:  

“Lúc anh cắn nhè nhẹ vai em, em mắc cở quá chừng, sợ có ai thấy kỳ chết.” 

Nghe câu đó, ông vụt đứng dậy nói với bà:  

“Em chịu khó ngồi chờ anh một chút nghen, anh chạy vô nhà lấy… hàm răng gỉa!!!” 

Thấy ớn chưa, lỡ có chuyện gì, mấy chục năm sau cũng còn nhắc hoài! 

Nói vây chứ nhiều chuyện trước mắt thì già lại quên, chẳng hạn như kiếm hoài không ra tức muốn chết, cặp kiếng đọc báo mới để đâu đó hôm qua mà bửa nay không nhớ thấy. 

Chuyện tiếu lâm xưa, có ông già phụ nuôi cháu nội cho cha nó đi làm xa. Ông nổi danh trong làng vì thuộc làu mấy chục bộ truyện tàu. Làng xóm có chuyện gì, ông thường ví von đem chuyện Phong Thần, Tam Quốc… ra so sánh xưa với nay. Bởi vậy, hồi xưa . . . 

Gởi cháu đi học, tới tháng lại không nhớ đóng tiền trường. Tháng nào như tháng nấy, phải nhắc hoài, thầy đồ đâm ra bực mình. Một hôm, thầy gọi đứa cháu lại bảo nó về nói với ông nội mày là hôm nay học câu: “Hán trào Tam Kiệt, Khổng Minh, Trương Lương, Hàn Tín.” Nó về kể lại trong lúc ông đang ăn cơm chiều. Bỏ đũa xuống, ông nói: “Cha, coi bộ Thầy mày quên rồi đó. Ngày mai vô lớp, nhớ kín đáo nhắc ổng, Hán trào Tam Kiệt là Khổng Minh Trương Lương Tiêu Hà chớ không phải Hàn Tín.” Ngày sau, đứa cháu làm như ông nó dặn, thì Thầy đồ bèn nói nhỏ với nó: “Mầy về nói với ông nội mày là chuyện xưa nhớ hay quá mà sao chuyện đóng tiền học mỗi tháng lại cứ quên hoài vây!” 

Có hai ông bà nọ, mới được con cháu bảo lãnh qua Pháp. Một hôm, đi khám bệnh định kỳ, ông lén hỏi nhỏ BS việt, xin thuốc để uống vì cái “khoản yêu đương,” qua đây mới có vấn đề chứ hồi xưa còn bên nhà thì không: Mỗi khi sinh hoạt, có lúc thì ướt đẩm mồ hôi, lại có khi phát lạnh run, kỳ quá. BS cũng không hiểu tại sao… 

Đến khi khám cho bà vợ, ông mới hỏi chuyện thì bà mắc cỡ nói “Trời ơi, cái ông quỉ đó, già rồi mà còn không chịu yên, thiệt tôi mệt với ổng hết sức. Một năm đâu được một hai lần, mùa hè rồi qua mùa đông thôi là may phước.” Hihihi. 

Nhớ hồi nào còn trai trẻ, hùng dũng bước đều một hai, hát vang trời: “Súng là vợ, đạn là con, thà hao mòn hơn… cất kỹ!” Chỉ có một số ít người vì lý do sức khỏe hay sao đó nên được miển dịch vĩnh viễn khỏi làm bổn phận Công Dân…. Nam. 

Rồi ngày qua đi, qua đi… 

Đến lúc hát bài “Giã Từ Vũ Khí”:  

“Một mai qua cơn mê để có một ngày,  

có một ngày chinh chiến . . . tàn !  

Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi  

ngoài con chim héo… em ơi!   

Người thì âm thầm như những đêm không trăng sao,  

buông dao đồ tể thành Phật,  

súng đạn quăng cái xạch thành ông . . . Từ.” 

Ngược lại, cũng có người không chịu cam phận, còn nhớ tiếc thời vàng son, oanh liệt của mình, giờ nhìn cải dưa, nhớ xưa cà rốt như “Hổ Nhớ Rừng . . . Lá Thấp”: 

Sáng nay, ngồi nấu nước chè, 

Nhớ lại chuyện cũ nó đè trong tim. 

Ngồi buồn, ngó xuống… con chim, 

Xưa sao hùng dũng giờ im thế này! 

Lắc qua, lắc lại mỏi tay, 

Sao cứ ủ rủ, ngây ngây, khờ khờ. 

Thôi rồi! Tàn một giấc mơ, 

Cần câu còn đó, mồi trơ hết rồi . . . 

Lúc tui lập gia đình, cha tui có nói một câu mà tui nhớ mải đến bây giờ:  

“Lấy nhau vì Tình, ở với nhau vì Nghĩa, sống với nhau cho phải Đạo, đó là 3 giai đoạn trong đời sống Vợ Chồng. Người đàn bà có thương có yêu mới chịu về làm vợ, nâng khăn sửa túi cho chồng. Họ mong đến khi tuổi già có nơi nương tựa, gọi là sống với nhau đến bạc đầu. Sanh con đẻ cái, nối dỏi tông đường, dung nhan không còn được như xưa, mình phải biết ơn mà đối xử cho phải Nghĩa. Khi lớn tuổi, qua mấy mươi năm chung sống dù không còn nói chuyện với nhau nhiều như xưa nhưng tánh ý đã tương thông, đó là Đạo Vợ Chồng vậy.” 

Án Anh đem Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín ra thuyết phục Vua để từ chối đứa cháu trẻ của Ông ban cho, quyết lòng ở lại với người vợ già của mình, còn sáng ngời trong truyện xưa tích cũ… 

Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, lúc bị tù oan, nhờ có Bà vợ lặn lội ra tận triều đình Huế đánh trống kêu oan mà ông được giải nạn. Đến lúc Bà qua đời, ông bận công vụ ở xa không kịp về tống táng. Ông viết hai câu đối rất thương tâm: 

“Ngã bần khanh năng trợ, ngã oan khanh năng minh, thiên hạ giai xưng khanh thị phụ. 

Khanh bệnh ngã bất dược, khanh tử ngã bất táng, thế gian đàm tiếu ngã phi phu.” 

Tạm dịch: 

Thuở tôi nghèo, Bà giúp đỡ, Lúc tôi oan, Bà giải tội, ai ai cũng khen: Bà xứng danh là Vợ Hiền. 

Bà lâm bệnh tôi không thang thuốc, Bà nằm xuống tôi chẳng cất chôn, trên đời ai cũng chê: Tôi không xứng mặt làm Chồng.” 

Thông tắc cùng, cùng tắc biến, biến tắc thông mọi sự đều mãi mãi trải qua như vậy. Khi lớn tuổi, giác quan con người không còn bén nhạy như xưa. Âu cũng là điều may, nếu không mình sẽ triền miên trong Ngũ Uẩn. 

Về lại quê nhà, tối tối, ngồi nói chuyện với Ba tui trước sân, cỏ mọc um tùm, ếch nhái kêu inh ỏi. Tui nói để nhờ người đến phụ với con, dọn dẹp sân vườn lại cho gọn gàng thì Ba tui nói: “Kệ nó con, Đừng Nghe, Đừng Thấy…” 

Ba tui rất thích hai câu thơ nói về cuộc đời: 

Lai như lưu thủy hề, thệ như phong 

Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung. 

Tạm dịch: 

Tới như dòng nước, tan như gió, 

Chẳng biết từ đâu, đi đến đâu. 

Mải mê nói chuyện, tới đây tự nhiên tui thấy buồn cười cho chính mình. Tui vẫn chưa thoát ra được hai chữ Nghe và Thấy của Ba tôi dạy. Tôi vẫn còn Nghe Thấy rất rõ trong tâm tưởng những việc thuở xa xưa. Tui viết tản mạn như hồi học lớp Đệ Tứ dịch bài “Thème” bị Thầy P.D.Nh. (anh của Nhạc Sĩ Pham Duy) chê… Văn Hôi Nước Mắm! 

Thuở đó, tui vừa 14 tuổi, học đệ tứ, Bài “Thème” dịch 4 câu thơ ra tiếng Pháp, lời than thở của con trâu trong “Lục Súc Tranh Công”: 

Trâu mỏi mệt, trâu liền năn nỉ, 

Một mình trâu, ghe nổi gian nan. 

Lóng canh gà vừa mới gày tan, 

Chủ đã gọi thằng chăn vội vã… 

Tui dịch ra như vầy: 

Le buffle se dit pitié, 

Je suis seul et travaille beaucoup. 

Dès que le coq chante, 

Le propriétaire appelle tout de suite le berger… 

Thầy P.D.Nh. sửa lại: 

Le buffle, exténué par un long travail, murmure ses plaintes. 

Que de misères ai-je tout seul supportées. 

Sitôt que le chant du coq annonce la fin des veilles 

Le maître se hâte d’appeler mon gardien . . . 

Đọc lại câu của mình, đúng là “Văn Hôi… Nước Mắm” thiệt ! Vì lời phê này mà tui nhớ đến bây giờ. Tui thấy hơi “bị…” “Già Không Đều” mặc dù “Không Còn Có Chổ Trẻ” (viết theo cách nói… thời thượng đó nha. Tới luôn bác tài, cho vui bao la, mênh mộng… tình đời… hihihi). 

Những tưởng khi già mình sẽ khác người, rốt cuộc cũng lẩm cẩm, vật vờ y hệt. Xin mượn mấy câu thơ của Tô Thức để kết luận bài này: 

Lô sơn yên tỏa, Triết Giang triều,  

Vị đáo thiên ban hận bất tiêu. 

Đáo đắc hoàn lai vô biệt cảnh,  

Lô sơn yên tỏa Triết Giang triều. 

Tạm dịch: 

Khói ngút sơn Lô, sóng Triết Giang, 

Chưa đi tới đó những mơ màng. 

Tới nơi mới thấy không gì khác 

Khói ngút sông Lô sóng Triết Giang 

Marcel NGUYEN  

Trần Văn Giang (ghi lại) 

Related post

Bình Luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.