TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ

 TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ

Hình minh họa

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
(Tản Đà)

Sáu bó rồi mà tui vẫn chưa biết là mình già hay còn trẻ… chán! Ra ngoài, những anh chị lớn tuổi hơn thì nói tui còn trẻ, khoái chí ! Tới khi con cái dắt mấy đứa cháu nội tới thăm, nghe câu: “Thưa ông nội,” tui mới xác định được vị trí của mình: Hết còn chỗ đứng trong giới trẻ mà chỉ còn… chỗ ngồi kế bên Bà Nội!

Lần đầu về xứ, thoáng một cái đã ở bên Pháp 18 mùa Đông (tại lạnh quá nên dễ nhớ hơn mùa Xuân), chưa kể mấy năm cải tạo và lưu lạc bên Nam Dương. Về lại chợ Thủ, thời gian hình như đã dừng lại từ lúc tui ra đi. Những chuyện xa xưa tựa hồ như chỉ mới xãy ra cách đây mấy bửa. Gặp một em trai ngoài chợ, mừng quá gọi lớn:

“Ê! Tường, khỏe không mậy?”

Bổng giật mình nghe câu trả lời:

“Chú hỏi gì vậy?”

Má ơi! Vậy mà tui cứ tưởng mình vẫn còn trẻ, cùng lứa tuổi với em đó, tưởng là thằng bạn nên kêu lầm tên nó thuở nào! Hỏi ra mới biết, nó chính là con của thằng Tường, bạn học cùng lớp ngày xưa. Hèn chi, giống Cha nó quá ! Tới thăm, vẫn cảnh cũ nhưng qua bao tháng năm, chỉ còn trơ lại như căn nhà diển tả trong bài “Hàn Nho phong vị phú” của Nguyễn Công Trứ. Bạn bè gặp lại, mừng mừng tủi tủi. Nội Ngoại Suôi gia hết trơn rồi mà vẫn quen miệng Mầy-Tao như thuở đầu trần chân đất. Nó nói tui phát tướng, thấy là biết Việt Kiều. Tui nhìn lại nó, ốm nhom, áo quần tơi tả. Chỉ có một điểm giống nhau, xin mạn phép cụ Phan Khôi:

“Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ nơi xứ Thủ gặp lại nhau.
Hai mái đầu xanh giờ nay đã bạc,
Nếu chẳng quen lung,
Đố mà nhìn ra cho được…”

Một buổi sáng đẹp trời, sau giấc ngủ êm đềm, thiếu phụ thức dậy sửa soạn, chuẩn bị cho một ngày mới. Đang ngắm bóng mình trong gương, bất chợt, nàng giật mình thảng thốt: hình như có một sợi tóc bạc quái ác ẩn hiện giửa những mượt mà đen bóng. Cố nhìn cho kỹ lại, trời ơi, đúng rồi. Không, trăm lần không, vạn lần không. Nàng không thể chấp nhận được sự phản bội tàn nhẩn đó. Nàng thấy mình còn quá trẻ, tâm hồn còn ngập đầy thơ nhạc, thể xác còn căn tràn sức sống, hát “karaoke” còn dài hơi vững nhịp, cặp chân còn khá dẻo dai suốt đêm trên… sàn nhảy. Nàng vẫn còn đang Xuân phơi phới đấy! Bằng mọi giá, phải nhổ cho được sợi tóc quỉ quái mới được! Từ đó, nàng đâm ra mất ngủ vì lo sợ mình già. Hễ soi gương là kiếm… tóc bạc. Nhổ ít, bạc ít, nhổ nhiều bạc nhiều, càng nhổ càng bạc. Phát biểu như các quản giáo hồi còn trong cải tạo:

“Rồi đây nàng sẽ quá độ lên giai đoạn… sói mà không kinh qua giai đoạn bạc.”

Cuộc tình sẽ rụng rơi mái tóc giả chứ không lạt phai màu tóc nhuộm. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý sợ già của quý bà, trước sau như một, sẽ không bao giờ thay đổi! Nàng đành tự nhủ: “Sợi tóc bạc cũng có cái duyên riêng cùa nó chứ! Thôi già rồi, dù đó chỉ là ‘Già Không Đều’ vì tuổi thì già nhưng tâm hồn thể xác vẫn còn có chỗ Trẻ.”

Em tuy… năm mấy hãy còn xuân!

Nhớ lại một kỷ niệm vui hồi còn trong Trại Cải Tạo. Lần đầu tiên được xem phim câm, chiếu ngoài trời, phụ đề tiếng Anh phía dưới có tên “Trẻ Mãi Không Già” mà tức cười. Nàng bộ đội cầm “micro” thuyết minh. Trên màn ảnh, có một cặp tình nhân trên bãi cỏ. Nàng nằm dài, chàng ngồi kế bên. Đôi mắt mơ màng, môi nàng mấp máy và chàng cuối đầu xuống. Trên màn ảnh, thấy chữ “Kiss Me My Love.” Giọng nói cô thuyết minh bổng trở nên lạnh lùng dữ dội như ra lệnh: “Cuối Xuống Tôi Bảo!” Anh em vỗ tay, cười rần rần. Lại có ông già, ngồi quay hoài cuộn chỉ trong cái máy thời gian. Lúc ra về, ai nấy cười quá xá:

“Mút chỉ rồi anh em ơi.
Ở Mãi Không Về,
chứ không phải ‘Trẻ mãi không Già.’
Hết cuộn chỉ này thay cuộn khác.”

Tới đầu năm 1976, trước Tết Bính Thìn, có nhiều người ra về theo diện bà con Cách Mạng bảo lãnh. Đám còn lại như tui, loại con bà phước, cháu ni sư thì ta cứ yên tâm ở lại học tập cho nó tốt thôi ! Ngày về, sớm hay muộn là tùy… các anh. Sau đó ít bữa, anh bạn chung một A kể lại giấc mơ lạ kỳ:

Anh chiêm bao thấy đang ngồi, tự nhiên có một ông già, tóc bạc phơ đến vỗ đầu, miệng nói:

“Thiệt tội nghiệp cháu tôi quá.”

Ngạc nhiên, anh hỏi:

“Ông là ai vậy?”

Bị ổng mắng:

“Tổ Cha mầy. Thời buổi này con cháu đâm ra bất hiếu hết trơn. Tao là Ông Nội mầy, từ mấy tháng nay mầy viết đi viết lại tên tao cả chục lần trong bản tự khai ba đời đó.”

Tôi lật đật thưa:

“Ông Nội, họ kêu con khai chứ con đâu có biết mặt ông. Mà ông Nội đi đâu vậy?”

Ông Nội trả lời:

“Bà Nội mầy ở dưới khóc quá trời, thấy ai được bảo lãnh cũng ra về hết trơn nên Bã kêu tao lên đây làm giấy cho mầy sớm theo về… với Ông Bà!”

Gặp lại sau mấy lần chuyển trại, tuy nét mặt vẫn trẻ trung nhưng tóc đà bạc trắng. Anh cũng vẫn tiếu lâm như ngày nào:

“Học tập chưa xong mà đầu đã bạc. Thôi, ráng ở lại đây, học cho xong môn Song Thủ Bổ Bác. Tay Búa Tay Liềm của Lão Ngoan Đồng để Cách Mạng trang bị cho bộ râu và cây gậy mới mong mai sau có chỗ đứng trong lòng dân tộc. Nếu không thì chắc ngồi luôn chứ oải quá rồi, sức ở đâu mà đứng nổi nữa.”

Có một người cùng đơn vị, lớn tuổi hơn, trước kia là Sếp tui, mới được con bảo lãnh qua đây năm 1990. Mười mấy năm được Nhà Nước lo cho ăn học trong “Trại Cải Tạo,” nên răng rụng gần hết. Qua đây rồi mà anh cũng không chịu mang răng giả. Anh triết lý rất hay:

“Răng hư là triệu chứng bộ tiêu hóa có vấn đề. Cơ thể đã già lại còn mang răng giả chỉ để nhai xương cho dòn chứ tuổi này còn dám cười duyên với ai ! Bày đặt gắn cái đó, bao tử chịu không nổi thì có nước húp cháo rùa.”

Tui hỏi ông ta:

“Ngày xưa anh đi tu nghiệp bên Mỹ như đi chợ, về đơn vị khoe với em út vụ ‘trả Thù dân tộc,’ vậy chớ qua đây anh có đi trả thù chưa?”

Ông cười trừ:

“Người mình khi nói về đàn ông, đàn bà thì hay lắm chú à. Còn trẻ thì gọi là hai vợ chồng, có nghĩa đàn ông trẻ khỏe hơn đàn bà nhiều, hai vợ một chồng cũng được, bảy ba ra vô không kể. Tới khi già yếu rồi thì kêu là hai ông bà. Lúc đó thì ngược lại, bà khỏe hơn ông! Nước chảy ngày càng tới, đến lượt chú rồi, mới thấy tuổi già nó dở đủ thứ. Như tôi bây giờ, vạn sư hưu, xí xóa bỏ qua hết cho yên thân.

Nợ Đầm đem trả cho Tây,
Tuổi già ốm yếu, ăn chay, đi chùa.

Không phải ốm vì yêu hay yếu vì ôm đâu nhé!”
Một đồng hương ở Pháp lâu lắm rồi, về hưu từ năm 1974, kể lại tuổi già bệnh hoạn của ông làm tui cười đau bụng. Rảnh rỗi, ông đến mấy trại tiếp cư tị nạn, thông dịch, làm giấy tờ giúp miễn phí cho dân mình. Thấy ai nấy ốm o gầy còm, ông tội nghiệp hỏi:

“Sau 75, thuốc men không có, lỡ bệnh hoạn rồi làm sao?”

Nghe vậy, dân tị nạn kia trả lời:

“Coi vậy mà trời sanh trời nuôi bác ơi, không có thuốc tây thì mình trị theo lối Việt Nam cũng hết bệnh hà!”

Ngạc nhiên, ông hỏi lại:

“Ủa! Trị theo lối mình là trị cách nào?”

Người kia đáp:

“Bây giờ, có nhiều thầy trị hay lắm, chẳng hạn như cháu đây, hồi trước nói xin lỗi, đi tiểu kiến bu chớ phải chơi đâu mà nhờ ông Thầy Nước Lạnh trị cho cháu có hai ba tháng thôi là dứt cái vụ đó. Trị dễ ợt, không cần thuốc men gì hết!”

“Trời ơi, ông cũng bị bịnh như anh kia từ hồi năm mươi mấy tuổi đến nay, phải kiêng cử đủ thứ. Thuốc tây thì uống mỗi ngày, sáng ra cà phê với đường giả. Thèm miếng bánh sinh nhật của thằng cháu nội đích tôn hết sức mà không dám rớ. Việc gì quên được chớ uống thuốc thì không à nha!”

Ông vui như lân thấy pháo hỏi tiếp liền:

“Vậy sao? Đâu chú nói cho tôi nghe coi.”

Người kia giải thích:

“Đâu có gì, cứ mổi buổi sáng thức dậy, bác uống liền một hơi một lít rưởi nước lã. Rồi trước hai buổi cơm trưa chiều, uống thêm nửa lít. Nhớ đừng ăn vặt, chừng qua một tháng thôi là bác thấy kết quả. Nó rửa sạch trơn gan ruột, hết bịnh luôn!”

Bán tín bán nghi, nhưng ông nghĩ trong bụng, tưởng làm sao chớ trị cách đó thì dễ quá! Hồi còn bên Việt Nam, bia 33 uống cả thùng, sá gì ba cái lẻ tẻ, đồ cái thứ một lít rưởi buổi sáng. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, đồng bệnh thương nhau, ông lật đật “phone” cho ông bạn già người Pháp làm chung Sở, để báo phương cách mầu nhiệm trị bệnh tiểu đường mới nhập cảng từ… Việt Nam! Cả hai vui mừng quyết định ngày mai áp dụng liền.

Marcel NGUYEN  

Trần Văn Giang (ghi lại) 

(Xem tiep kỳ tới )

Related post

Bình Luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.