TỪ ĐỒI TĂNG NHƠN PHÚ ĐẾN HẢI NGOẠI

 TỪ ĐỒI TĂNG NHƠN PHÚ ĐẾN HẢI NGOẠI

Sự nghiệp gian truân của tôi mang nặng dấu ấn Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Khóa 2, 1952. Thật  vậy, bốn tháng thụ huấn ở đây là nguồn gốc và cũng là điểm khởi đầu một cuộc đời đầy biến  chuyển, lên bổng xuống trầm có thể nói là cực mạnh.

Nhưng trước hết tôi phải tri ân sâu xa Quân trường này, nơi đã tạo cho tôi nhiều thử thách phải  đối đầu, nhiều chướng ngại vật phải vượt qua, nơi đã làm cho tôi kính mến quân đội và tạo cơ  duyên cho tôi được đóng góp ít nhiều cho nền quốc phòng của đất nước trong thời Đệ Nhất Cộng  Hòa. Tiếc thay, việc lớn chưa thành thì vận nước đã đổi thay ! Tôi vẫn gắn bó với quân đội nhưng  trong một phương vị khác dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa cho đến ngày cuối cùng của Miền Nam tự  do thân yêu.

Bốn–mươi-sáu năm sau, 2021, duyên nợ vẫn bền chặt. Quân, Cán, Chính VNCH đương nhiên  không toàn vẹn nhưng ý chí bất khuất vẫn còn, với tầng lớp hậu duệ chung sức, tiếp nối cuộc  tranh đấu không ngưng nghỉ cho một nước Việt Nam tương lai tự do, dân chủ, tiến bộ, hùng  cường, góp mặt xứng đáng với cộng đồng thế giới.

Đang dạy học ở Huế, tôi được động viên vào trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa 2, 1952 cùng  hai giáo sư Thân Trọng Sinh và Hoàng Diệm. Sau khoảng bốn tháng thụ huấn, một hôm sau khi tập  dượt ở bãi tập về, trời đã nhá nhem tối, trung úy người Pháp Ladolf chỉ huy đại đội mà tôi là khóa  sinh đại đội trưởng, không cho chúng tôi vào nhà ăn vì có vài khóa sinh vừa đi vừa nói chuyện.  Anh em đã mỏi mệt sau một ngày hoạt động, lại vừa đói bụng, còn phải tiếp tục xếp hàng đi quanh  nhà ăn nên nhiều bạn la ó, phản đối. Tôi đồng ý với các bạn nhưng thật ra tôi cũng không thể  ngăn cản các bạn được.

Trung úy Ladolf lặng lẽ biến mất, có lẽ vì lo ngại cho an ninh bản thân trước phản ứng của các khóa  sinh không còn kiểm soát soát được nữa. Vài đại đội khóa sinh khác cũng hưởng ứng kéo ra sân  tạo nên một cảnh tượng hỗn độn. Đại úy Pichenet, đặc trách giảng huấn, Phó Chỉ huy quân trường  và vài sĩ quan Việt Nam, huấn luyện viên, cũng không ra mặt tái lập trật tự. Sáng hôm sau, tôi được  gọi lên gặp thiếu tá (1) Bouillet, chỉ huy trưởng. Ông không la lối gì, bảo tôi khuyên mọi người sinh  hoạt bình thường. Tôi nói với ông vụ việc hôm qua chỉ là một cuộc biểu dương ôn hòa trước thái  độ quá nghiêm khắc và khinh miệt chúng tôi.

Khoảng hai tuần sau, tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Nguyễn văn Hinh đến thăm trường.Tất cả  các khóa sinh có mặt đông đủ ở câu lạc bộ nghe ông hiểu thị. Vẻ mặt nghiêm nghị, giận dữ, ông  nói tiếng Pháp – mang quốc tịch Pháp, vợ là người Pháp (2), không rõ ông có nói được iếng Việt  không – dằn từng tiếng một, tạm dịch : « ……..tôi rất bận nhưng phải đến đây để nói cho các anh  biết quân đội phải có kỷ luật. Việc các anh làm là một vi phạm nghiêm trọng. Các anh phải biết  trong thời chiến, các cấp chỉ huy có quyền sinh sát (3) binh sĩ dưới quyền. Tôi biết kẻ cầm đầu  đang còn ở trong hàng ngũ các anh (… vous devez savoir qu’en temps de guerre, tout chef a le  droit de vie et de mort sur ses hommes. Je sais que le meneur est encore parmi vous…) ». Với lời  cảnh báo của tướng Hinh, tôi linh cảm một sự trừng phạt nặng nề sẽ được dành cho tôi. Trong lúc  chờ đợi hung tin, tôi nhờ bạn Bửu Trang – cùng phòng ngủ với tôi và bạn Trần Doãn Thường, cả  hai bạn đều mang cấp bật đại tá năm 1975 và từ trần gần đây ở Hoa Kỳ – quen với gia đình tôi, cho  gia đình tôi « biết là tôi ốm ở quân y viện » nếu gia đình hỏi tin tôi.

Không chờ đợi lâu, khoảng mười ngày sau, tôi được dẫn giải về Quân lao Chí Hòa và biệt giam  trong một xà-lim diện tích 2mX2m. Hành trình khổ nạn bắt đầu. Nhưng thay vì ngồi than thở, tuyệt  vọng, tôi nhờ bạn Nguyễn Văn Hoàng, cùng học trường đại Học Luật khoa ở Sài gòn năm 1950- 1951, ( luật sư ở Sài Gòn, định cư ở Pháp vừa từ trần ở Paris) gởi vào Quân lao Chí Hòa cho tôi vài  cuốn sách luật để học qua ngày và mổi ngày vừa đọc sách, tôi vừa biện hộ tưởng tượng cho một  bị can trước Tòa vì tôi thán phục luật sư Maurice Garçon nỗi tiếng một thời ở Pháp. Sau gần hai

tháng quân lao, tôi được đưa ra Bắc Việt, giáng cấp xuống binh nhì, trú đóng ở tiểu đoàn 2. Tháng  3,1953, tướng Hinh đầy quyền uy, hạ lệnh đưa tôi xuống nấc tận cùng của quân đội ở mặt trận  Bắc Việt trong giai đoạn sôi động nhất của cuộc chiến.

Đang sẵn sàng thi hành nhiệm vụ mới chắc chắn là gian lao và có thể hy sinh tính mạng, tôi vô  cùng ngạc nhiên được tiếp đón như một người em ruột đi xa mới trở về gia đình. Từ thiếu tá Hà  Thúc Sanh, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2, thiếu úy Đông đón tôi ở hải cảng Hải Phòng cho đến hạ  sĩ Tòng phụ trách ẩm thực, mọi người đều ân cần, thân mật, hỏi tôi về vụ việc đã xẩy ra và tỏ vẻ  thích thú khi nghe đến cuộc phản kháng mấy sĩ quan « Tây » mà họ không mấy thích có lẽ vì họ  nghĩ rằng các quan Tây này còn phảng phất đầu óc thực dân………

Và định mệnh bắt đầu lanh chóng biến đổi từ đây như định mệnh của tướng Nguyễn Văn Hinh  nhưng theo hai chiều trái ngược.

Ngày 20 tháng 9, 1954, tướng Hinh mưu toan đảo chính Thủ Tướng Ngô Đình Diệm mới về nước  hơn hai tháng nhưng âm mưu bất thành vì Hoa Kỳ không muốn Miền Nam rơi vào hỗn loạn và  Pháp, dù chống ông Diệm, không dám ủng hộ tướng Hinh. Tướng Hinh được Quốc Trưởng Bảo Đại  triệu hồi gấp về Pháp để tránh bị xét xử về tội phản loạn.

Tháng 11, 1954, tướng Hinh lặng lẽ khăn gói trở về Pháp mà ông là một sĩ quan thuộc Không quân  được biệt phái sang Việt Nam, lần lược giữ các chức vụ Chánh Võ Phòng (4) của Quốc trưởng Bảo  Đại và Tổng Tham mưu trưởng Quân Đôi Quốc Gia Việt Nam từ tháng 3, 1952.

Phần tôi, sau một năm phục vụ tại TĐ 2, bị viêm loét dạ dày tá tràng (Ulcère gastroduodénal) và  giải ngũ, tôi hoàn tất Luật học và gia nhập nghề luật sư năm 1955, đắc cử Dân Biểu Quốc Hội năm  1958 ở tỉnh Thừa Thiên-Huế. Vốn là học sinh trường Quốc Học, tôi cũng dành vài giờ một tuần dạy  môn Thế Giới sử ở trường trong mấy năm sau khi tốt nghiệp luật khoa ở Sài Gòn. Đến bây giờ  nhiều cựu học sinh của tôi đã trở thành chiến hữu và thân hữu rải rác ở nhiều nơi.

Vào Quốc Hội, tôi được tín nhiệm lãnh đạo Khối Dân Biểu Liên Minh Xã Hội kiêm nhiệm lần lượt  Chủ Tịch các Ủy Ban Lao Động-Xã Hội-Y tế, Nội Vụ và Quốc phòng, đồng thời được cử giữ chức vụ  Hội Thẩm Viện Bảo Hiến (ở Pháp mang tên Conseil Constitutionnel, ở Hoa Kỳ là một thẩm quyền  của Tối Cao Pháp Viện, The Supreme Court) cho đến ngày đảo chính tháng 11, 1963 Đệ Nhất  VNCH sụp đổ.

Hồi tưởng quá trình hoạt động, đấy là giai đoạn tôi được làm những việc hợp với sở thích và mong  ước của tôi nhất nhưng tiếc thay công tác đang diễn tiến mạnh thì cuộc phản loạn 1963 đã chấm  dứt tất cả. Và như một dẫn dắt của định mệnh, các công tác này bắt nguồn từ những ngày thụ  huấn ở Quân Trường Thủ Đức, đồn trú ở Tiểu Đoàn 2 đã cho tôi biết, hiểu, thương yêu và cảm  phục đời lính, những hy sinh tuyệt vời của các chiến sĩ ta để bảo vệ giang sơn, đất nước. Những  người đã đặc biệt quí mến tôi ở tiểu đoàn và đã đền nợ nước : thiếu úy Đông, thiếu úy Thích, thiếu  úy Đình, đại úy Sơn, mà tôi vẵn nhớ đời, nhớ từng khuôn mặt. Còn một sĩ quan ở TĐ 2 tốt nghiệp  khóa 1 Quân trường Nam Định là thiếu úy Tô Đình Tuấn – bào đệ của bác sĩ Tô Đình Cự và bs Tô  Đình Tuân- mà tôi mang ơn và mến phục, một chiến sĩ can trường, một người bạn quí cùng vị hôn  thế đã giúp tôi mọi mặt trong thời gian tôi ở tiểu đoàn. Nếu ai biết bạn Tô Đình Tuấn còn hay mất,  xin cho tôi biết tin. Tôi xin cảm ơn trước.

Luôn luôn nhớ quân trường Thủ Đức, khoảng đầu năm 1962, tôi hướng dẫn phái đoàn Ủy Ban  Quốc Phòng đến thăm quân trường, trung tâm đào tạo các sĩ quan trừ bị cho Quân lực VNCH. Tiếp  theo, chúng tôi thăm viếng, quan sát, thu thập ý kiến và nhận xét các cơ sở của quân đội để thực  hiện hai dự thảo luật tối quan trọng « Qui chế sĩ quan Quân Đội » và « Một nền quốc phòng tiến  tới tự túc, tự lực ».

Động lực thúc đẩy tôi làm hai dự luật này là : 1- muốn có một qui tắc thăng thưởng rõ ràng, công  bằng, không thiên vị, dựa trên thời gian phục vụ, năng lực, chiến công 2- không được dựa mãi vào

viện trợ quân sự từ các nước bạn mà phải xây dựng một nền quốc phòng tiến lần và tiến nhanh  đến tự túc, tự lực.

Tôi gặp lại bạn đồng khóa Trần Ngọc Huyến, đại tá chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Liên quân Đà Lạt  trong cuộc viếng thăm quân trường hiện đại, qui mô này.

Tại Quân Khu 1, đại tá Nguyễn Văn Thiệu, tư lệnh sư đoàn 1, hướng dẫn chúng tôi thăm các tiền  đồn ở Lao Bảo, Khe Sanh và vượt qua biên giới Lào-Việt thăm một đơn vị quân đội hoàng gia Lào.

Tại bộ Tổng Tham Mưu, đại tá Đỗ Mậu thuyết trình tình hình an ninh tổng quát và tình trạng quân đội một cách khác thường, chê trách vu vơ, lộ vẻ bất mãn. Nhiều sĩ quan thì thầm với tôi đại  tá Mậu bất mãn vì ông chưa được phong Tướng !

Sau các cuộc viếng thăm, tiếp xúc với các giới chức quân đội, tôi điện thoại xin Đại Tướng Lê Văn  Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng cử vài sĩ quan qua Ủy Ban Quốc Phòng góp ý kiến với chúng tôi về dự  thảo qui chế sĩ quan(3). Tôi còn nhớ đại khái mấy lời rất thành thật, tự nhiên của ĐT Tỵ : « Thưa  ông Chủ Tich, Với nhà binh chúng tôi, việc thăng thưởng rất quan trọng. Làm sao cho công bằng  thì tốt lắm………….. ». Mấy hôm sau, ba sĩ quan đến làm việc với chúng tôi, trong số có đại tá Khắc  (nếu tôi nhớ đúng tên) mà tôi quen lúc đại tá đến học ban Năng lực luật khoa (Capacité en droit)  ở trường Luật Sài Gòn.

Về dự thảo luật « Một nền quốc phòng tiến tới tự túc, tự lực », sau khi dự họp Hội nghị Liên Hiệp  Nghị sĩ Quốc tế ở Nhật Bản. chúng tôi viếng thăm để thắt chặt tình hữu nghị với Đại Hàn và Đài  Loan (Trung Hoa Dân Quốc), hai quốc gia có những đặc tính tương đồng với Việt Nam. Ngoài các  cuộc diện kiến với Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, Thủ Tướng Trần Thành và ông Tưởng Kinh Quốc  người kế vị TT Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Tổng Thống Phác Chánh Hy ở Hán Thành, riêng tôi,  còn phải tham khảo ý kiến của vài thẩm quyền ở đây đặng nghiên cứu những kinh nghiệm xây  dựng tổ chức quốc phòng của họ. Và hai chuyện rất đặc biệt đã xẩy ra liền sau và lâu sau cuộc  công du ở hai nước này với những nhân vật tôi có tiếp xúc riêng.

Trước nhất là một chuyện quá quan trọng nhưng không đi đến đâu. Sau một dạ tiệc chung, ngoại  trưởng Trung Hoa Dân quốc mời tôi đến tư dinh của ông và chuyển lời của Tổng Thống Tưởng Giới  Thạch nhờ tôi thưa với Tổng Thống Diệm vận động chính phủ Hoa Kỳ giúp quân đội THDQ vượt  qua eo biển Đài Loan, lập một đầu cầu ở Phúc Kiến, xâm nhập Hoa lục, cùng dân chúng nổi dậy lật  đổ chế độ cộng sản. Ông ngoại trưởng nói thêm họ Tưởng chỉ nhờ Hoa Kỳ giúp chuyển quân qua  eo biển mà thôi, kỳ dư quân đội THDQ đảm trách hết. Ông còn tặng nhà tôi một xấp gấm xanh để  may một chiếc áo dài.

Về nước, tôi trình TT Diệm lời thỉnh cầu của TT Tưởng Giới Thạch nhưng TT Diệm không nói gì cả.  Tôi hiểu ý của ông là chuyện không thể giúp được dù họ Tưởng rất thân với ông. Chính Tưởng  Tổng Thống đã tuyên bố sau cuộc đảo chính 1963 « Phải 100 năm nữa mới có thể có một lãnh tụ  như ông Diệm ». Theo tôi hiểu, không giúp được vì 3 lý do :

1/ Hoa Kỳ không can thiệp vào một  toan tính nguy hiểm và khó thành công như vậy

2/ TT Diệm đang có chuyện bất đồng sâu xa với  Hoa Kỳ từ ngày TT và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cực lực phản đối vụ HK đồng ý chấp thuận Thỏa  Hiệp trung lập Lào quốc ngày 23 tháng 9, 1962. Hoàng thân Souvanouvong lãnh tụ Cộng sản Pathet  Lào, vợ Việt Nam, tham gia và thao túng chính phủ Lào. Đường Tây Trường Sơn mở rộng cho quân  đội Bắc Việt tiến vào Nam.

3/ TT Diệm từ chối việc đổ quân tác chiến Mỹ vào Việt Nam để chính  nghĩa của cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam khỏi bị hiểu lầm hay xuyên tạc mà chỉ yêu cầu gia  tăng viện trợ quân sự.

Chuyện thứ hai bất ngờ và kinh khủng với Trung Tướng Kim Jae Gya mà tôi lầm với Tướng Kim  Jong Pil vì hai ông cùng là Tướng, cùng họ Kim, cùng phục vụ dưới thời Tổng Thống Phác Chánh Hy (Park Chung-Hee). Ông Kim Jong Pil làm Thủ Tướng, ông Kim Jae Gya làm Tổng Giám Đốc Tình  báoTrung Ương Hàn quốc (KCIA). Tôi tiếp xúc với Tướng Kim Jae Gya về vấn đề quốc phòng và  quân đội. Ông có tặng tôi một chiếc khay trà sơn dầu màu đỏ. Lâu sau, tôi được tin ông và đồng

đội mưu toan đảo chính, giết TT Park 5 cận vệ và tài xế. Cuộc đảo chính thất bại và ông bị xử tử  hình treo cổ ngày 24/5/1980 !

Tại Miền Nam VNCH, cuộc đảo chính 1/11/1963 « thành công ! » nhưng sau 90 ngày ngày phá tan  đất nước, cuộc chỉnh lý ngày 31 tháng 1, 1964 đã bắt giam và giải ngũ các tướng cầm đầu cuộc  dảo chính. Tiếp theo là mấy năm chính trường và quân đội, đặc biệt một số chỉ huy cao cấp, tranh  giành nhau quyền hành và quyền lợi trong lúc quân, dân, cán, chính tiếp tục hy sinh bảo vệ đất  nước. Đến năm 1967, hiến pháp của nền Đệ Nhị-Cộng Hòa mở đầu một trang sử mới nhưng thời  cuộc đã bắt đầu đổi thay. Dân chúng Hoa Kỳ đã muốn chấm dứt tham chiến ở Việt Nam, phong  trào phản chiến tại Mỹ đã lan rộng cùng khắp thế giới, cuộc hòa đàm Paris khởi sự năm 1968,  chấm dứt năm 1973, quân đội Hoa Kỳ vá các nước bạn VNCH rút khỏi Miền Nam, để VNCH đơn  độc phải chiến đấu một mình chống Cộng sản Bắc Việt được toàn thể khối Cộng Sản quốc tế tích  cực yểm trợ chưa kể Hiệp Định Paris 1973 đã mặc nhiên cho phép CSBV để lại 100.000 quân tại  Miền Nam.

Đúng 10 năm trước (1963), Dự luật « Tiến tới một nền quốc phòng tự túc, tự lực » và Dự  luật « Qui chế sĩ quan quân đội » đã chết yểu với Đệ nhất VNCH, mang theo ý hướng xây dựng  một quân đội hùng mạnh, kỷ cương đủ khả năng chiến đấu hữu hiệu trong mọi tình huống, kể cả  trường hợp phải dự phòng, một mình bảo vệ đất nước.

Trở lại Quân Trưởng Bộ Binh Thủ Dức, nơi tướng Nguyễn văn Hinh đã vô tình tạo cho tôi cơ  hội sống chết với quân đội bằng quyết định của ông đầu năm 1953 cho tôi làm lính « trấn thủ lưu  đồn » ở chiến trường Bắc Việt.

Năm sau, 1954, vì tội phản loạn, ông phải vĩnh biệt quê hương. Năm 1955, ông mưu toan bí mật  trở lại ở biên giới Việt Miên nhưng cuộc hẹn mưu đồ làm loạn một lần nữa bất thành vì các sĩ quan  ông hẹn gặp đã phớt lờ ông !

Năm 1962 tôi trở lại thăm Quân trường cũ như đã kể nhưng đặc biệt hơn nhiều chuyện đặc biệt  khác là một phần tư thế kỷ sau, năm 1978 tại thủ đô Paris tôi suýt giáp mặt ông. Hôm ấy, một  người Việt, tóc bạc phơ, da mặt hồng hào như vừa uống rượu nhiều, y phục xuềnh xoàng bước  vào khách sạn 3 sao Hôtel Céramic, đường Wagram, cách đại lộ Les Champs Élysées khoảng 500  thước, thủ đô Paris, nói chuyện với mấy cô tiếp viên. Ông ấy vừa rời khách sạn thì một cô tiếp viên  liền hỏi tôi ( tôi làm giám đốc khách sạn này 1977-1978 sau khi rời Mỹ sang Pháp năm 1976 để  nhờ hai ông Bộ Trưởng Pháp Jean Letourneau, nguyên Quốc Vụ Khanh đặc trách các Quốc Gia  Liên Kết Việt-Miên-Lào và Alain Peyrefitte đương kim Bộ Trưởng Tư Pháp mà tôi có quen trước  1975, can thiệp với VC cho gia đình tôi kẹt ở VN sang đoàn tụ gia đình nhưng vẫn không được)  hỏi tôi có biết ông người VN ấy không và cho tôi biết ông ấy là Tướng Nguyễn văn Hinh, nguyên  chỉ huy Quân Đội VN hiện làm việc cho một công ty Pháp ở gần đây, hay đến giữ phòng cho khách  hàng của công ty. Tôi bật người tự hỏi sao có chuyện ngẫu nhiên như vậy và rất tiếc không biết  kịp để thăm hỏi ông vì dù sao ông Hinh với tôi đều là người Việt lưu vong, chỉ khác nhau về hoàn  cảnh và thời gian.

Ông phải biệt xứ trước tôi hơn một phần năm thế kỷ. Phần tôi, được sống với quê hương hơn  một phần năm thế kỷ, chiến tranh, an bình lẫn lộn, gian khổ và hào hùng đi đôi, suốt hai nền  Cộng Hòa của đất nước. Chưa kể một nửa đời sau còn nặng nợ với quê hương nhưng những  kỷ niệm ở Trường Bộ Binh Thủ Đức vẫn còn tồn tại từng chi tiết trong ký ức của tôi như điểm  khởi hành cuộc đời bôn ba của tôi(5).

Paris, 3.tháng 3.2021

Lê Trọng Quát

(1)Thiếu Tá chứ không phải Thiếu Tướng Bouillet như môt số tài liệu đã ghi sai.

(2)Có tài liệu ghi phu nhân của tướng Hinh, tên là Letourneau sinh ở Algérie và có tài liệu khác  cũng ghi là Letrourneau, ái nữ của ông Letourneau, nguyên Quốc Vụ Khanh đặc trách các Quốc Gia  Liên kết Việt-Miên-Lào.Qua sự giới thiệu của một cựu Nghị sĩ Liên Hiệp Pháp, tôi gặp ông  Letourneau năm 1976 để nhờ ông và ông Alain Peyreffitte đương kim Bộ Trưởng Tư Pháp mà tôi  quen lúc gặp ông ở Hội nghị Liên Hiệp Nghị sĩ Quốc tế tại Tokyo, Nhật bản, giúp đỡ can thiệp với  Việt Cộng cho gia đình tôi xuất ngoại đoàn tụ tại Pháp. Không có kết quả nhưng hai lòng đã tận  tình giúp tôi có quốc tịch Pháp rất nhanh chóng để tôi dự thí và trúng tuyển kỳ thi Công cán Ủy  Viên một cơ quan chính phủ Pháp.

(3)Tướng Hinh đã chứng tỏ không biết quân luật, một điều rất nguy hiểm vì theo Quân luật Việt  Nam cũng như Quân luật của các quốc gia, tội nặng nhất của một binh sĩ ở chiến trường là « đào  ngũ theo địch » cũng phải được Tòa án quân sự đặc biệt ở Mặt Trận xét xử. Tôi đã biện hộ trước  Tòa Án Quân Sự cả chục năm. Theo tôi biết, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa những binh sĩ đào ngũ ở  mặt trận cũng chỉ bị đưa ra xét xử tại TAQS chứ không bị một chỉ huy nào giết chết.

(4) Đồng thời với tướng Hinh làm Chánh Võ Phòng Luật sư Trần Văn Trai là Chánh Văn Phòng  QuốcTrưởng Bảo Đại.Trong thời gian tôi làm Trưởng Khối LMXH, LS Trai là Phó Trưởng Khối, Chủ  Tịch Ủy ban Ngoại Giao. Tốt nghiệp Tiến sĩ Luật và Văn Chương ở Pháp. LS Trai từ trần ở Paris năm  2011, hưởng thọ 100 tuổi.

(5) Mấy hôm sau khi viết bài này, tôi điện đàm thăm Trung Tướng VNCH Trần văn Trung hiện ở  Paris, nguyên chỉ huy trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức năm 1965-1966 trong thời gian các chuyên  viên và công chức cấp cao được huấn luyện tại quân trường này trước khi trở về nhiệm sở cũ.  Ngày 15 tháng 4, 1975 tôi có mời Tổng Trưởng Nội Vụ Bữu Viên và Trung Tướng Trung họp bàn  tại Phủ Thủ Tướng về các biện pháp cấp thời chấn chỉnh tinh thần binh sĩ các quân khu 1 và 2 và  tình trạng đồng bào và công chức từ hai Vùng chiến thuật này về vùng thủ đô. Ngày 17, hai trực  thăng chở Thủ Tướng Cẩn, các vị Cố Vấn Chính Phủ và tôi đến thăm mặt trận Xuân Lộc nhưng chiếc  trực thăng chở tôi, hai vị Cố Vấn do Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm hướng dẫn bị sướt đạn địch trên  không phận gần chiến trường nên phái đoàn phải chuyển hướng về bản doanh Quân Đoàn 3 ở  Biên Hòa và chiến tuyến Long An.

Related post

Bình Luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.